Minh bạch trong quản lý, khai thác khoáng sản

.
Minh bạch trong quản lý, khai thác khoáng sản
Chủ Nhật, 22/07/2018, 02:19:59
 Font Size:     |        Print
 

Khai thác cát trên sông Hồng (Hà Nội). Ảnh: TRẦN SƠN

Trong quản lý, khai thác khoáng sản (KTKS), hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã khá toàn diện, thể chế hóa được đầy đủ các quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước, góp phần đưa ngành công nghiệp khai khoáng của nước ta phát triển bền vững. Tuy nhiên, một số quy định còn thiếu hoặc chưa phù hợp khiến việc quản lý chưa hiệu quả.

Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN và MT), hiện cả nước có 3.000 tổ chức, cá nhân đang thăm dò, KTKS với 4.071 giấy phép thăm dò, KTKS do cơ quan trung ương và địa phương cấp. Có 33 trong số 63 tỉnh, thành phố đã lập và phê duyệt kế hoạch đấu giá quyền KTKS cho 355 khu vực khoáng sản, đã có nhiều tỉnh, thành phố tổ chức đấu giá thành công, với giá trúng thầu đều vượt hơn 10% so với mức giá khởi điểm, như: Hải Dương, Thái Nguyên, Quảng Bình, Kon Tum, Bình Thuận, Đồng Nai... Đối với việc cấp quyền KTKS, Bộ TN và MT đã thẩm định 604 hồ sơ, thu tiền cấp quyền KTKS hơn 34 nghìn tỷ đồng. Có được những kết quả nêu trên một phần nhờ công tác hoàn thiện chính sách về quản lý, khai thác tài nguyên khoáng sản và triển khai có hiệu quả các quy định.

Đánh giá về việc hoàn thiện chính sách quản lý, khai thác tài nguyên khoáng sản (KS) thời gian qua, Phó Tổng cục trưởng Địa chất và KS Việt Nam Lại Hồng Thanh cho biết, Hiến pháp năm 2013 quy định, tài nguyên KS là tài sản công, thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Trong quá trình xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản năm 2010, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đã tập trung hoàn thiện thể chế quản lý KS, nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên KS của đất nước theo hướng công khai, minh bạch. Nghị định số 33/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và KS đã quy định rõ các mức phạt khác nhau phụ thuộc vào mức độ của hành vi và theo từng nhóm, loại KS khác nhau. Chẳng hạn, phạt tiền 200 triệu đồng đối với cá nhân và 400 triệu đồng đối với tổ chức có hành vi không lập bản đồ hiện trạng mỏ, không lập mặt cắt hiện trạng khu vực được phép khai thác vàng, bạc, đá quý, KS độc hại...

Bên cạnh đó, Bộ TN và MT, các địa phương đã hoàn thành xác định số tiền cấp quyền KTKS đối với phần trữ lượng còn lại của các mỏ đã cấp phép khai thác trước ngày Luật Khoáng sản có hiệu lực. Đến hết năm 2017, số tiền cấp quyền KTKS là 43.462 tỷ đồng. Số tiền cấp quyền KTKS đã thu về ngân sách nhà nước từ năm 2014 đến 2017 là 14.989 tỷ đồng. Trung bình mỗi năm, số tiền thu từ phí bảo vệ môi trường trong KTKS khoảng 2.000 tỷ đồng. Bộ TN và MT cũng đã thu hồi nguồn kinh phí Nhà nước đã đầu tư cho điều tra, thăm dò KS đối với hầu hết các giấy phép KTKS thuộc thẩm quyền cấp của Bộ TN và MT, thu về cho ngân sách nhà nước khoảng 2.000 tỷ đồng. Qua đó, góp phần tạo sự bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức, cá nhân tham gia KTKS, tăng thu ngân sách và có vốn để tái đầu tư cho công tác điều tra cơ bản địa chất về KS.

Tuy nhiên, trong lĩnh vực quản lý KTKS còn một số bất cập. Thí dụ, cách tính thuế tài nguyên chưa hợp lý, dẫn tới tình trạng nhiều tổ chức, cá nhân KTKS có hàm lượng giàu, bỏ không KTKS có hàm lượng nghèo nhằm giảm chi phí, giá thành trong quá trình khai thác. Tại một số địa phương, chính quyền các cấp chưa tuyên truyền, phổ biến pháp luật về KS đến người dân; tình trạng KTKS trái phép diễn ra khá phổ biến, chưa được xử lý dứt điểm; không ít doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ về nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ môi trường, trách nhiệm hỗ trợ địa phương và người dân nơi có KS được khai thác, chưa quan tâm đầu tư vốn, công nghệ để thu hồi tối đa, sử dụng hợp lý, tiết kiệm KS trong khai thác, chế biến.

Để nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên KS, bên cạnh việc tiếp tục triển khai thực hiện tốt Chiến lược KS đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chỉ thị số 03/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường hiệu lực thực thi chính sách, pháp luật về KS, Bộ TN và MT cần sớm hoàn thiện dự thảo Nghị định quản lý cát, sỏi lòng sông để trình Chính phủ. Đồng thời, tiếp tục thực hiện đấu giá quyền KTKS; khoanh định và công bố khu vực có KS phân tán, nhỏ lẻ để giao cho địa phương quản lý; thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ tính tiền cấp quyền KTKS, tiền sử dụng số liệu, thông tin về kết quả điều tra, thăm dò KS của Nhà nước. Công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động thăm dò, KTKS cần được đẩy mạnh; tiến hành thống kê sản lượng KS khai thác thực tế; kiểm kê trữ lượng KS đã khai thác, trữ lượng KS còn lại trên toàn quốc một cách chính xác và hiệu quả.



TRUNG TUYẾN
Nguồn: www.nhandan.org.vn